Chép lại từ blog cũ, đăng ngày 19-11-2006

Tôi không bao giờ hiểu tại sao không có ai dịch cuốn Citadelle của Saint Exupéry ra tiếng Anh. Dĩ nhiên có nhiều cách giải thích: cuốn sách viết chưa xong. Chưa xong không chỉ có nghĩa là nó chưa có một kết thúc, mà vì nó cũng chưa được sắp xếp gì cả. Các chương, các ý tưởng lập lại rất nhiều, hình như cuốn sách không có một cấu trúc nào. Đó chỉ mới là phần hình thức. Phần ý tưởng và triết thuyết, không sắp cuốn sách vào đâu được. Rồi đến cốt chuyện cũng không có. Có khi cuốn sách như một loại kinh thánh không có các thánh và các mẩu chuyện nặng chùng xuống bởi ý nghĩa và biểu tượng của họ. Kinh thánh cho một tôn giáo từ chối mọi giáo điều. Có khi nó là một bài thơ như định nghĩa rõ ràng nhất của một bài thơ: đẹp đẽ và đầy hình ảnh và đầy máu của một trái tim đang thở khẽ khàng hay khó nhọc. Nó muốn dạy cho tôi những thứ gì đó giống như sự khôn ngoan, chiêm nghiệm. Những loại khôn ngoan chiêm nghiệm không làm cho tôi thấy rõ trật tự của cuộc sống hơn, biết phân biệt chính tà hơn và sống yên bình hơn. Nó đem lại những hiểu biết làm cho tôi bất an trăn trở vì thấy mình sống chưa đủ, mình mỏng như một cái bóng: tôi có đường viền cho đầy đủ một hình hài, nhưng không có nhiệt độ.

Tôi tưởng tượng Saint-Ex viết cuốn sách cho những thiên thần. Điều làm nên thiên thần không phải là sự thánh thiện hay mẫu mực hay bình yên hay sự lung linh của một thứ ánh sáng trắng buốt như sao mai. Điều làm nên thiên thần là sự ngụp lặn trong cuộc đời, trong quê hương, với tất cả niềm kiêu hãnh của một thiên thần và tất cả sự thầm lặng của một viên gạch trong một ngôi đền, cùng với lầm lẫn, mơ màng và đau đớn, ngụp lặn, chấp nhận tất cả để quyết liệt không chấp nhận một thứ: làm một cái bóng.

Tôi chưa lần nào có can đảm đọc cuốn sách theo thứ tự các trang như chúng đã được viết, từ chín trăm tám mươi lăm trang bản thảo, không có chuyện, không có nhân vật, không có thoại, chưa kịp được tác giả đọc lại. Nhưng tôi đã đọc không biết bao nhiêu lần. Mỗi lần dở ra đâu đó, hình như lúc nào cũng tìm được một điều gì hay và đẹp đẽ hay quyết liệt. Tôi sẽ đồng ý với Saint Ex, còn nếu tôi không đồng ý với một trang nào đó, nó sẽ lẩn quẩn trong tôi suốt vài đêm.…

Khi nói đến tên Antoine de Saint-Exupéry, người ta nghĩ đến Hoàng tử bé. Hoặc là những cuốn truyện phiêu lưu của tâm thức đàn ông như Cõi người ta hay Chuyến bay đêm. Người ta mong chờ những lời thánh thiện, khôn ngoan và êm ái. Những chuyến đi. Những giọt sương trong vắt và lung linh. Khi Saint-Ex đưa những chương đầu của Citadelle cho bạn thân xem, họ đã ước chi ông chưa bao giờ bắt đầu viết cuốn sách đó.

Saint-Ex không có đủ cứng cỏi để lạnh lùng trước sự thất bại trong lần đầu đưa bản thảo cho người khác đọc. Ông bất an, buồn bã. Hay là ông đã lạc đường, dấn thân vào một vùng đất không phải của mình?

Cho đến bây giờ, vẫn còn nhiều người yêu Saint-Ex thầm mong ông chỉ là Hoàng tử bé. Vẫn chưa có bản dịch tiếng Anh cho Citadelle. Ngôn ngữ của cuốn này khác, giống như một người bắt đầu hiểu cái chết, không còn thì giờ để dịu dàng, ông trở nên quyết liệt. Dù có người không muốn biết rằng tác giả của Hoàng tử bé lại viết về những con chó cái, nhưng với tôi, đây vẫn là cuốn sách đằm thắm nhất. Tôi chưa, hoặc ít đọc được ở đâu một tình yêu như vậy dành cho con người.

Dịch trích đoạn:

Nhưng với con, một trái chín từ cây có nghĩa gì? Trái của con chỉ có giá trị, khi người ta không đem nó trả lại cho con được.

Có người kia ngồi trên sàn diễn và sống bằng những tiếng gọi hoan hô của đám đông ngu muội: “Tôi ban tặng sắc đẹp và sự duyên dáng, cùng những bước đi vương giả của tôi; và đám người kia ngưỡng mộ nhìn tôi như nhìn một chiếc tàu lộng lẫy vừa đi ngang qua chỗ họ. Chỉ sự có mặt của tôi thôi đã là một sự ban tặng.”

Sự kiêu hãnh đó bắt nguồn từ một thứ quà tặng giả hiệu, một ảo tưởng. Bởi vì con chỉ có thể dâng tặng những gì con chuyển hóa: như một cái cây tặng những trái chín mà nó đã chuyển hóa từ đất mà có; như một vũ nữ tặng một điệu múa cô đã chuyển hóa từ bước đi của mình để làm thành; như người lính đã biến máu mình thành ngôi đền hay vương quốc để dâng hiến.

Nhưng một con chó cái thì không có giá trị gì, dù đám chó đực bu chung quanh mê mẩn nó. Bởi vì thứ mà con chó cái ban tặng nó đã không chuyển hóa từ một cái gì ra cả. Thú vui của nó là thú vui nó đánh cắp từ sự truyền giống. Nó khum người mà không cần mất sức lực, theo sự đòi hỏi của những con chó kia.

(từ: chương 60, Citadelle)

Viết thêm ngày 23.11.07
Hôm nay tìm được bản dịch tiếng Anh cuốn “Citadelle” của Stuart Gilbert. Tựa tiếng Anh của nó là “The Wisdom of the Sand”.

Chép lại từ blog cũ, đăng ngày 30-09-2006

Stars, hide your fires.
Let not light see my black and deep desires.
(Macbeth)

Không phải tâm lý là tất cả. Đừng nghĩ anh có thể dùng tâm lý để giải thích cho mọi nhân cách và hành động của mọi nhân vật, trong truyện hay ngoài đời. Khi đọc truyện hay xem phim, cũng đừng lấy đó làm thước đo, cho rằng một nhân vật chỉ đáng tin khi tác diễn giải được tâm lý nhân vật ấy một cách thuyết phục.

Hãy chấp nhận rằng chúng ta không hiểu tâm lý của Macbeth. Shakespeare không gắng thuyết phục ta rằng Macbeth bị sự ham muốn quyền lực làm mờ cả tim lẫn mắt; chúng ta không thấy sự phản trắc là điều tất yếu. (Tolstoy từng nói rằng Macbeth không có động lực để giết vua). Nhưng không những chấp nhận câu chuyện được kể, chúng ta còn thấy Macbeth là một nhân vật thật hơn sự thật. Sự thật về con người được nối sâu, nới rộng khi chiếc cổng ngăn giữa sự có thể và không thể biết được được mở ra. Ở vùng biên giới, ở nơi địa đầu đó bóng tối nhiều hơn ánh sáng. Câu chuyện của Macbeth nằm ở nơi ấy: mịt mùng, đầy hoài nghi và hoang mang.

Mâu thuẫn là đây: chúng ta tìm thấy mình trong vùng tranh tối tranh sáng nhiều hơn ngoài nắng trời chói lóa.

chuối

31.08.2009

Chép lại từ blog cũ, đăng ngày 07-10-2006

Nhà thơ được thế giới biết đến nhiều nhất của Nhật, người đã hoàn chỉnh thể thơ haiku mà chúng ta biết ngày nay, có tên là… Chuối.

Một mùa đông, đệ tử của ông làm cho ông một túp lều. Sau, họ trồng một bụi chuối trong sân. Ông có bài thơ:

Mưa chiều hôm:
tàu chuối
báo tin mưa trước hết

Evening rain:
the basho
speaks of it first

Matsuo Basho (1644 – 1694) tên thật là Matsuo Kinsaku, tên samurai là Matsuo Munefusa, bút danh là Sobo, nhưng sau bài trên ai cũng nhắc đến ông bằng tên Basho, có nghĩa là Chuối.

Một đêm lúc 3 giờ sáng, tôi nằm nghe chương trình Mosaik của đài WDR3 phát lại cho mấy người trực đêm và những tên mất ngủ. Họ phỏng vấn một bác sĩ về hưu tôi không kịp nghe tên trong một hội thơ của người hưu trí, haiku là gì.

Tôi không chú ý đến câu trả lời, vì định nghĩa haiku nghe đã nhiều, và cũng không quan tâm đến mấy cái hội lập ra để mấy bà nội trợ, mấy ông bà già cùng tỉa hoa hồng, nuôi vẹt kiểng hoặc… làm thơ.

Nhưng câu trả lời của ông bác sĩ về hưu nọ thật hay. Đây là những gì tôi còn nhớ được từ câu định nghĩa haiku của ông:

Thơ theo cách hiểu của chúng ta, luôn có một dòng chảy (tiến trình). Thơ kể lại một câu chuyện, một kinh nghiệm, một mạch suy tưởng. Haiku không có những thứ trên. Một bài thơ haiku hoàn toàn nằm trong một khoảnh khắc của hiện tại. Người làm thơ haiku không đem vào thơ hoài niệm, hoặc ước mơ.

Nghe giống nhiếp ảnh quá nhỉ?

Tuy chỉ nằm trong khoảnh khắc, ý niệm về thời gian của thơ haiku có thể mênh mông. Bài này Basho viết khi đến thăm một bãi chiến trường xưa:

Những ngọn cỏ mùa hè
những gì còn lại
của bao giấc mơ binh sĩ

Summer grasses,
All that remains
Of soldiers’ dreams

Chép lại từ blog cũ, đăng ngày 07-10-2006

Có lần về quê xưa Quảng Nam, chúng tôi đi đò qua sông.

Hai chị em chèo chống một con đò ngang. Giá thu mỗi người mỗi lần qua đò là 300 đồng. Vì tiền giấy 100 đồng không còn dùng, nên việc thu 300 đồng hơi phức tạp một chút: bạn trả 500, sẽ được thối lại 200 đồng. Nếu bạn có 2 tờ 200, đưa cô lái đò thì cô đành nợ lại bạn 100, lần sau đi sẽ trừ, chứ cô không thối tiền lại được.

Tôi hỏi cô sao cô không lấy giá đi đò là 400 đồng, cô chỉ cười không trả lời. Tôi hỏi cô tôi: Nếu chị em cô đưa đò lấy giá 400 đồng, thì vẫn còn rẻ, đâu có ai tiếc 100 đồng mà không đi. Với lại, cả khúc sông dài chỉ có một con đò ngang, đâu có ai cạnh tranh đâu. Cô tôi trả lời như thế này:

Những nhà khác có đò, lớn cũng bằng đò của nhà chị em cô đó, cũng do hai người chèo chống, họ nhận chuyên chở thứ này thứ nọ, gạch, lá lợp nhà, rau trái, gà vịt cho người đi chợ, hoặc than, củi, vân vân. Trung bình mỗi ngày họ kiếm được 60 ngàn.

Hai chị em cô gái nọ, mỗi ngày đưa chừng 200 khách qua sông, 300 một người, cũng kiếm được 60 ngàn. Con số này ít có tăng giảm bất ngờ, vì ngày nào cũng có từng ấy người có việc qua sông.

Nếu cô lái đò tăng giá 400 một người, sẽ kiếm được 80 ngàn một ngày. Một nhà khác có đò thấy vậy, sẽ không đi đò dọc chở hàng thuê nữa mà sẽ đi đò ngang. Số khách chia đôi, mỗi nhà sẽ chỉ còn 40 ngàn. Vậy là cả hai nhà sẽ bỏ đò ngang đi đò dọc, và dân làng không còn đò để sang sông.

Vì vậy, tiền đò 300 đồng là một con số không thể khác được.

Chép lại từ blog cũ, đăng ngày 15-10-2006

Chị là một bác sĩ. Chị đi Ấn độ để ngồi thiền. Chị viết thư cho tôi, kể rằng chị đã ngồi đối diện với một bức vách, một mình, ở một nơi hoàn toàn không có tiếng động, trong ba tháng. Chị ước có thể nói cho tôi biết chị đã tìm thấy gì trong ba tháng này, nhưng đó là một thứ kinh nghiệm người ta không chia sẻ được. Chị viết, chị đã tìm thấy cái phần thật của mình. Điều đó với tôi trừu tượng quá. Chị viết có những thứ tôi tưởng không bao giờ tách được khỏi tôi, nhưng chúng không phải là tôi. Tôi không phải là thân thể tôi, cảm giác của tôi, tình yêu của tôi, tôi không phải là ý nghĩ hay niềm tin tôi mang. “Khi em ngồi thiền, em tách khỏi mình từng lớp những thứ làm em xa lạ với cái bên trong, bên trong tất cả những bên trong, cho đến khi em tìm thấy cái linh hồn tĩnh lặng của em, nó ở bên trên mọi thay đổi. Đó không phải là cái chết, mà là vĩnh hằng.”

Cái chết không có thật. Chị biết như vậy. Chúng ta có một linh hồn ở bên ngoài thời gian.

Tôi nhớ đoạn phim, không phải các khung hình xem đã lâu và đã phôi pha, mà là cái ấn tượng không thể quên được: Họ bắn con hươu cao cổ. Viên đạn thứ nhất xuyên qua lớp da dầy, xoáy vào thịt đỏ. Con hươu chạy, chợt hai đầu gối trước quị xuống. Nó đứng lên lại, và tiếp tục chạy đi. Họ bắn thêm những viên đạn kế tiếp, từ những lỗ đạn máu của con hươu phun ra, nhiều và đậm như những suối nước đỏ tuôn trào lúc nửa đêm: tim của con hươu đang sống và đang bơm từng giòng máu sẽ không còn chảy trở về cái gian bên kia của con tim ấy nữa. Rồi con hươu ngã xuống, trái tim chỉ còn khoảng không để bơm vào những mạch máu. Nó nằm dưới đất, mắt còn mở. Nó chưa chết. Khi những con kên kên đến, con mắt sẽ là thứ chúng mổ ăn đầu tiên.

Tôi quên hỏi chị rằng những con hươu có linh hồn hay không. Tôi sẽ gửi cho chị một email với câu hỏi này: “Đức Phật có nói những con hươu cao cổ có linh hồn, hay đức Phật không nói gì cả?” Tôi sẽ không tả họ đã bắn con hươu như thế nào và tại sao. Cái chết chạm đến chúng ta có khác gì không khi chúng ta biết rằng nó có thật hay không có thật?

từ chối

31.08.2009

Xe tôi ghé vào trạm đổ xăng, một buổi sáng giữa phố đông. Xe máy và xe hơi nối nhau chờ đến lượt mình, ai cũng tất bật, ai cũng nóng nảy. Tôi nhìn xuyên qua những người mua xăng, thấy một cậu bé đứng đó, tay cầm một xấp vé số, cậu chừng 8, 9 tuổi. Vì ai cũng bận rộn, không ai nhìn thấy cậu, và cậu đang tìm một ai đó nhìn thấy mình, để cậu mời vé số.

Tôi không thích việc người ta đi bán vé số ở ngoài đường. Tôi nghĩ đó là một hệ thống ăn xin có tổ chức rộng lớn và rất bất công, vì người thực hiện phần khó khăn nhất chỉ được hưởng một phần rất nhỏ. Vài người bạn tôi nói dù sao nó cũng giúp được nhiều người nghèo, nó giúp người ta kiếm tiền ở ngoài đường mà không phải là xin ăn. Vậy thì nó là một cái gì lưng chừng: người bán vé số giữ được danh dự của họ, ngược lại, họ chỉ được giữ lại một phần nhỏ số tiền họ kiếm hoặc là xin được.

Gương mặt cậu bé buồn bã vì người đông như vậy mà không ai nhìn cậu. Đầu cậu hơi cuối. Chợt cậu ngước lên và nhìn thấy ánh mắt của tôi. Trong một khoảnh khắc tôi nhìn thấy mắt cậu có ánh sáng, có niềm hy vọng, gần như là hân hoan. Cậu hy vọng tôi sẽ mua vé số của cậu, và hy vọng như vậy có gì là sai đâu. Nhưng mà tôi sẽ lắc đầu. Cậu nhìn tôi với một chút cầu khẩn, cậu giơ sấp vé số lên mời, miệng cậu hé một nụ cười, dẫu mong manh, đó là một nụ cười thật. Cậu còn quá nhỏ, chưa biết làm sao để giả dối. Trước khi lắc đầu, tôi đã thấy ánh mắt tối lại, nụ cười tắt đi, cái đầu khẽ ngoảnh đi rồi cuối xuống vì thất vọng của cậu. Nỗi thất vọng chỉ nhỏ, chỉ là một chút bóng tối làm cho mắt cậu mỗi ngày một ít long lanh hơn. Mỗi ngày cậu nhận được bao nhiêu cái lắc đầu, và bao nhiêu bóng tối thì đủ cho cậu không còn lại một chút tin yêu nào dành cho con người, chỉ còn lại sự ê chề, rồi chai đá. Tại sao lại ném cậu vào cái thế giới mà mỗi ngày những gương mặt người dần tan biến đi, chỉ có những cái lắc đầu là còn lại mãi.

Chép lại từ blog cũ, đăng ngày 07-07-2007

Những năm còn trẻ, lúc buồn tôi hay nghĩ: “life is empty”. Lớn hơn, tôi biết đời là nước, không phải chiếc bình. Người ta có thể nói: “the jar is empty”, chứ không thể nói: “the water is empty”, cho nên nói “life is empty” là sai rồi.

Tôi hiểu là chúng ta, mỗi người, trong lúc còn loay hoay với cái ngã, chưa hòa một vũ trụ duy nhất, sẽ tìm cách chứa đựng bên trong mình cái vũ trụ đó, nhốt nó trong trái tim mình. Đời là giòng nước, là biển cả. Trái tim mình chỉ là một chiếc bình, chứa được ngần ấy nước của biển, dung tích của chiếc bình là sự dấn thân và tấm lòng của mình. Lúc buồn bã và nhỏ bé, tôi thấy tôi chứa được rất ít giòng nước bên trong mình. Tôi ít oi, tôi khô cạn. Tôi chưa có đủ can đảm để đập vỡ cái chai, đập vỡ những giới hạn của mình, đập vỡ sự cô đơn. Chưa có can đảm để chết và quay về cùng với biển, ngay cả ngồi thiền cũng không đủ can đảm.

Có khi tôi vô cảm gần một tuần, rồi một hôm nghe Requiem của Mozart và khóc không phải chỉ vì nó buồn mà thật ra vì nó đẹp nhiều hơn. Rồi chính nó, một bài nhạc cầu hồn, lại đưa tôi về với sự sống.

Con người, có khi có những thời khắc mong manh. Những lúc đó tôi thường chọn sự yên lặng, điều đó đã trở thành một thói quen.

Nếu anh không đến
Em không có gì đo đạc nỗi cô đơn
Không nghe tiếng thở của linh hồn, và niềm thương nhớ
Một buổi chiều không tiếng động
Một buổi chiều êm

Nếu anh không đến
Em, đã bị xóa đi trong sự nhàn rỗi và nỗi thờ ơ,
Ngồi bên cửa cuối gian phòng này
Không biết trời đã bao giờ có mưa, hay là nắng
Ngàn buổi chiều êm

Nếu anh không đến
Em nhẹ như hương và mềm như khói
Thời gian êm ái đã xóa nhòa tất cả những ngày xanh
Ngàn buổi chiều êm tràn dâng thành biển cả
Không còn cõi bờ, không còn anh

Nếu anh không đến
Đêm duỗi những ngón yên lành ve vuốt ngực môi em
Bàn tay chìm vào da thịt, chợt mất rồi biên giới
Có ai chăng thổi hư vô vào chân tóc
Đưa em vào chốn này, hạnh phúc của thinh không

Không còn buổi chiều nào
Không còn nơi đâu
Không còn em

Chép từ blog cũ, đăng lúc 00:25 ngày 31-10-2008

words

31.08.2009

The main things which seem to me important on their own account, and not merely as means to other things, are knowledge, art, instinctive happiness, and relations of friendship or affection.
Bertrand Russell

Resentment is like drinking poison and waiting for the other person to die.
Carrie Fisher

There are two kinds of men who never amount to much: those who cannot do what they are told and those who can do nothing else.
Cyrus H. Curtis

Chép lại từ blog cũ, đăng lúc 20:08 ngày 05-07-2007

Hôm nay buồn, trời mưa. Đi ngang một quán cơm bình dân đèn thắp đèn sớm vào một giờ ngày chưa đi hẳn, còn vương một chút ánh sáng sáng mờ mờ hiu quạnh trong cơn mưa từ chiều chưa chịu dứt. Trời nửa tối, và ánh đèn neon trắng toát hắt ra từ quán cơm trong một con hẻm vắng người vì người ta ngại mưa. Phía trước quán cơm có cái tủ kính bày các món sườn ram, trứng chiên, thịt kho, dưa cải xào… Cái quán vừa thân thuộc, vừa hờ hững tẻ nhạt làm sao.

Tôi vừa buồn, vừa đói bụng. Tôi tưởng tượng mình đi vào quán, gọi một dĩa cơm với một miếng sườn ram và mấy lát dưa leo, rồi ngồi một mình ăn, vừa nhai cơm, thỉnh thoảng gặm vào miếng sườn, vừa, rất có thể, khóc hị hị cho đã đời cơn buồn đã bao ngày không duyên cớ.

Nhưng chỉ tưởng tượng thôi, chứ không vào quán, không gọi cơm. Giống như một họa sĩ, nghĩ ra một bức tranh không có ý nghĩa mấy, chỉ có một chút gì buồn buồn, rồi cuối cùng không vẽ nó vì thiếu niềm tin cần thiết. Tháng sau, bức tranh ấy chìm vào đâu đó trong tâm tưởng, trở thành vài khoảnh khắc của một giấc mơ nhòa nhạt. Chỉ còn một cảm giác. Không còn bức tranh, không có gì để tả cảm giác ấy.

Và đời thì mênh mang.