Văn xuôi có thể là nghệ thuật hay không?

Cho tôi nói trước rằng tạo ra một tác phẩm nghệ thuật chỉ là một chọn lựa, không phải là mục đích của tất cả những người viết văn. Người ta vẫn đặt văn học bên cạnh nghệ thuật, bên cạnh chứ không phải bên trong. Một tác phẩm văn học hoàn toàn có đủ lý do để tồn tại ngay cả khi tác giả của nó không xem nghệ thuật là mục đích.

Ngôn ngữ là một qui ước, là phương tiện trao đổi thông dụng và trực tiếp nhất giữa con người. Khi người viết chọn một ngôn ngữ minh bạch để đạt đến mục đích là được hiểu bằng con đường ngắn nhất, chúng ta khó nhận ra nghệ thuật vì lúc đó ngôn ngữ chỉ là một qui ước được lặp lại. Ngay cả khi tác phẩm có giá trị triết học, cũng chưa phải đương nhiên đó là một tác phẩm nghệ thuật.

Văn xuôi trở thành nghệ thuật a) Khi ngôn ngữ được đẩy đến những biên giới mới, nới rộng các qui ước. b) Khi một câu văn có thể được hiểu với nhiều tầng lớp ý nghĩa đồng lúc. c) Khi ngôn ngữ làm rung động mọi cảm xúc chứ không chỉ qua con đường lý trí.

Cho tôi hỏi lại về điểm b) Khi một câu văn có thể được hiểu với nhiều tầng lớp ý nghĩa đồng lúc.

Không phải nhiều tầng lớp ý nghĩa làm cho câu văn tối nghĩa đi, có thể bị hiểu sai, và như thế là vi phạm tội lỗi đáng chết của một người viết?

Các đề tài của triết học thường khó hiểu và công việc của người viết sách triết là làm sao cho câu văn càng minh bạch càng tốt, ý nghĩa cần nhất quán không thể bị hiểu lầm. Ngôn ngữ của triết học cần giống ngôn ngữ toán học, ví dụ như tổng số là kết quả của phép toán cộng còn sai số là kết quả của phép toán trừ. Định nghĩa không được di dịch.

Nghệ thuật, ngược lại, có thể lấy một đề tài giản dị và diễn đạt nó với nhiều tầng lớp phức tạp. Vâng, tôi đồng ý là có nhiều tầng lớp thì có thể tối nghĩa và có thể bị hiểu sai. Thay vì viết ra tất cả, câu này sau câu kia, người viết đặt các tầng lớp đồng lúc trong cùng một câu văn (như counterpoint trong nhạc) cũng có nghĩa là ông ta đặt vào tay người đọc tự do hiểu và cảm nhận. Tự do nào cũng đi kèm với ít hoặc nhiều liều lĩnh. Bị hiểu sai. Hoặc không được hiểu. Thì sao? Nghệ thuật luôn luôn phải sống với số phận đó. Điều làm nên nghệ thuật gồm hai phần. Phần bên nay là sự diễn đạt của người nghệ sĩ; phần kia là cảm nhận chủ quan của người ngắm nhìn.

Một tác phẩm nghệ thuật khi đã làm xong nhưng chưa được nhìn ngắm thì nó vẫn chưa xong.

Cái gì làm nên các tầng lớp ý nghĩa trong một câu văn?

Tôi xin mượn hình ảnh của một nhà thơ: con chim đen. Bạn biết rằng khi con chim đen bay ngang qua bầu trời, có bao nhiêu người nhìn nó thì có bấy nhiêu cách nhìn. Và nhiều hơn như vậy nữa. Người viết chỉ nhắc đến con chim đen bay ngang một lần mà thôi, trong một lần đó, có bao nhiêu cách nhìn nó dù chỉ trên nền một bầu trời duy nhất.

Tôi tưởng tượng trong tryện có một nhân vật nói về con chim đen, và điều người ấy nói có thể vừa cho bạn biết về con chim đen, vừa cho bạn biết về một bí mật của người nói. Đó là hai tầng ý nghĩa khác nhau. Người trong truyện có một ước vọng không còn làm được trong kiếp này, và trong một khoảnh khắc lạ lùng người ấy thấy con chim đen đang sống giấc mơ của mình, và người ấy tả cho bạn con chim đen trong thứ ánh sáng bất chợt đó.

Rồi lại có những tầng khác. Không phải bạn chỉ có con chim đen và người tả nó, mà còn người viết, kẻ đã tạo ra cả hai. Ở lại lâu hơn một chút, biết đâu người đọc lại thấy bí mật mình khám phá ra hoặc tìm lại được chính là của mình. Các tầng lớp trong một đoạn văn giống như mây, bạn thấy nhiều hay ít, là do mặt trời cho bạn bao nhiêu ánh sáng – và bóng tối – rọi xuyên qua đám mây đó.

Tôi còn nhiều câu hỏi, nhưng còn cần có thì giờ sắp xếp chúng lại một chút.

Ừ, để hôm khác. Bây giờ đi ngủ thôi.

Đoạn này trong cuốn “Ways of Seeing” của John Berger tôi dịch đã đưa lên blog 360°, hôm nay đem qua đây:

Theo những qui ước tuy được thấy là sai nhưng chưa bỏ đi được, sự hiện diện của một người đàn bà rất khác với sự hiện diện của một người đàn ông. Sự hiện diện của một người đàn ông tùy thuộc vào hứa hẹn thứ quyền lực mà người ấy sẽ mang. Nếu hứa hẹn này lớn lao và đáng tin, thì sự hiện diện của ông ta sẽ đáng nể. Nếu hứa hẹn ấy nhỏ hoặc khó tin, người ta sẽ thấy ông ta hiện diện một cách yếu ớt. Quyền lực được hứa hẹn có thể là đạo đức, tính khí, có thể là quyền lực kinh tế, xã hội, tình dục – nhưng dù thế nào những thứ quyền lực này đều là quyền lực ngoại giới. Sự hiện diện của một người đàn ông khiến bạn đoán được ông ta có thể làm gì cho bạn hoặc hại bạn, dù bạn có thể đoán sai, dù ông ta có thể giả vờ làm được những chuyện ông ta không thực sự làm được. Nhưng sự hiện diện của một người đàn ông luôn luôn thể hiện quyền lực mà ông ta dùng với người khác.

Ngược lại, sự hiện diện của một người đàn bà bày tỏ thái độ của người đàn bà về chính mình, nó định nghĩa người ta có thể làm gì hoặc không thể làm gì với nàng. Sự hiện diện của người đàn bà được thể hiện bằng cử chỉ, giọng nói, ý kiến, biểu lộ, quần áo, qua cách nàng chọn bày biện căn phòng của mình. Sự hiện diện của một người đàn bà ở ngay trong con người nàng, đến nỗi đàn ông thường nghĩ rằng nàng chính là những gì thoát ra từ thân thể nàng, một loại hơi nóng hay là mùi hương hay là hơi thở.

Sinh ra làm đàn bà có nghĩa là sinh ra trong một không gian giới hạn được chia cho mình, sinh ra để rơi vào sự trông coi của đàn ông. Sự hiện diện trong xã hội của người đàn bà là kết quả của sự khéo léo dàn xếp làm sao sống trong sự canh chừng đó trong một khoảng không gian giới hạn như vậy. Nhưng cái giá phải trả là tự thân người đàn bà phải chịu tách đôi. Một người đàn bà lúc nào cũng phải liên tục tự nhìn ngắm mình. Nàng hầu như lúc nào cũng bị đi kèm bởi ý tưởng của nàng về bản thân. Lúc nàng bước ngang qua căn phòng hay đang khóc vì cha nàng chết, người đàn bà vẫn khó thoát khỏi ý nghĩ về hình ảnh mình đang bước đi thế nào hay đang khóc thế nào. Từ những năm thơ ấu xa xưa nhất, nàng đã được dạy, được thuyết phục rằng nàng phải liên tục tự quan sát mình.

Và như thế, nàng nhận ra trong cùng một con người mình có một kẻ quan sát và một kẻ bị quan sát. Hai yếu tố này dù ngược nhau đã trở nên hai thành phần cố định tạo nên con người nàng.

Người đàn bà phải quan sát tất cả những thứ định nghĩa mình là ai, tất cả những thứ mình làm, bởi vì cách nàng được trông thấy bởi người khác, nhất bởi đàn ông, trở nên quan trọng gần như tuyệt đối cho cái được coi là sự thành công của đời nàng. Áp đặt lên trên cảm nhận của người đàn bà về sự hiện hữu của chính mình là cảm nhận mình được người khác nhìn nhận ra sao.

Đàn ông quan sát đàn bà trước, rồi mới quyết định thái độ của mình với nàng. Bởi vậy, cách người đàn bà được người đàn ông nhìn thấy quyết định nàng sẽ được đối xử ra sao. Để kiểm soát được phần nào việc này, người đàn bà tập lèo lái cách người ta nhìn nhận mình. Chính cái cách mà phần trong người đàn bà làm kẻ quan sát đối xử với phần làm kẻ bị quan sát biểu hiện cho người ngoài thấy cả con người nàng muốn được họ đối xử như thế nào. Và cách nàng đối xử với chính mình tạo nên sự hiện diện của nàng. Sự hiện diện của người đàn bà nào cũng điều tiết điều gì “được phép” hoặc “không được phép” xảy ra khi nàng có mặt. Mỗi hành động của nàng – dù mục đích trực tiếp hay thúc đẩy gián tiếp của nó là gì – đều được hiểu là biểu lộ cách nàng muốn được đối xử. Nếu một người đàn bà ném chiếc ly xuống đất, đó là một thí dụ cách nàng đối xử với chính tình cảm nóng giận của mình, cũng là cách nàng mong tình cảm ấy được người khác đối xử thế nào. Nếu một người đàn ông ném chiếc ly xuống đất, điều đó chỉ được hiểu là hành động biểu lộ sự giận dữ. Nếu một người đàn bà kể một chuyện tiếu lâm, đó là thí dụ cách nàng đối xử với con người hài hước trong chính mình và như vậy người ta nhận ra con người hài hước ấy muốn người khác đối xử với cô ta thế nào. Chỉ có đàn ông mới có thể kể chuyện tiếu lâm chỉ để kể chuyện tiếu lâm.

Để giản dị hóa, ta có thể nói thế này: đàn ông hành động (men act) và đàn bà tự diễn (women appear). Đàn ông nhìn đàn bà. Đàn bà tự nhìn mình được nhìn thế nào. Điều này không chỉ quyết định hầu hết các mối quan hệ giữa đàn ông và đàn bà mà còn quyết định mối quan hệ của đàn bà với chính mình. Kẻ quan sát trong người đàn bà có nam tính: kẻ bị quan sát có nữ tính. Như thế, người đàn bà tự biến mình thành một vật phụ thuộc- và đặc biệt một vật để người ta nhìn: một thuộc thể của thị giác.

Khi nhìn thấy một con thuyền và nghĩ là nó đẹp, bạn không hề nghĩ đến mảnh nào trong một trăm ngàn mảnh đã được ghép lại để làm nên con thuyền ấy. Một con thuyền đẹp là nhờ cái trật tự theo đó những mảnh nhỏ đã được ghép lại. Cuối cùng, con thuyền cũng không đẹp vì cái trật tự ấy, mà vì những lời hẹn của nó. Lời hẹn của con thuyền là những chuyến đi xa. Nếu đó là một con thuyền cũ, nó cũng đẹp vì những con đường nó đã băng qua đại đương; vì những bờ biển nó đã đến và rời đi, và bây giờ sóng vỗ ở bên trong ký ức của con thuyền, dù bạn không nhìn thấy. Ký ức cũng giống như một lời hẹn.

Cái đẹp luôn luôn dẫn đến những thứ rộng lớn hơn chính nó. Giống như một bài thơ hay thì lớn hơn tổng số các từ được viết xuống giấy. Cái đẹp bắt đầu từ một thứ có hình tướng, nhưng nó không chấm dứt ở đó.

Hãy nghĩ đến khoảng không bạn chừa lại, nó như thế nào. Điều này áp dụng cho việc viết tiểu thuyết, cũng như cho kiến trúc. Cho tất cả mọi ngành design.

Cái đẹp của một con thuyền nằm ở lời hẹn. Một con thuyền còn như thế, huống chi một con người.

1

Tôi đã sống ở nhiều nơi trên thế giới. Và trở về nhà. Và lại đi. Một người bạn nói với tôi rằng người viết cần đi nhiều, sống nhiều, để có nhiều vốn sống. Nhưng thế nào là sống nhiều?

Người ta vừa sợ đời mình nhiều biến cố, vừa sợ cuộc đời xảy ra ở một nơi nào khác và mình không có mặt ở đó.

Như nhiều người khác, trong tôi luôn luôn có một ước vọng về một cuộc đời sôi nổi, và một ước vọng cho một cuộc đời an lành. Chúng ta luôn luôn mang trong người cùng lúc nỗi nhớ những chuyến đi xa và niềm mong mỏi ngày trở về.

Ngày đó, tôi tin rằng cuộc đời ở ngoài kia. Trong thế giới bên ngoài, ở những nơi khác nhau, người ta đã gầy dựng nên, làm ra cuộc đời. Tôi sẽ đến và dự phần vào đó, để rồi một ngày nào đó tôi có thể nói tôi đã đến sống ở Mỹ, ở Pháp, ở Ấn Độ, và tôi biết cuộc đời ở những nơi đó như thế nào. Nếu tôi biết nhiều cuộc đời ở nhiều nơi, có nghĩa là tôi có nhiều vốn sống. Tôi sẽ có nhiều câu chuyện. Thật ra không phải vậy. Chúng ta chỉ có một cuộc đời, cuộc đời của mình. Những chuyến đi, những khung cảnh sống khác lạ, chỉ cung cấp những cái khung khác nhau cho câu chuyện duy nhất của cuộc đời duy nhất của mỗi người. Thế giới xa vắng cũng ở trong lòng và quê hương thân thuộc cũng ở trong lòng.

Ở thế hệ của chúng tôi, chọn cuộc sống thị thành, có lẽ người ta còn phải biết giữ cả hai – đường đi và lối về – trong cùng một ngăn tim. Những thành phố lớn càng ngày càng giống nhau. Những con đường nhỏ, những mái nhà quen và người quen càng ngày càng thay đổi và nhanh chóng trở nên lạ lùng. Nếu cần một quê hương, một nơi chốn yên lành và bền vững, chúng tôi phải tựa vào những thứ không do con người làm ra và không thể mất đi: những cơn mưa, những ngày bão, những đêm không gió.

Buổi chiều chúng tôi đứng ở lan can tầng trên một căn nhà trên sườn đồi, nhìn xuống thành phố. Bầu trời rất rộng ở chung quanh. Cơn mưa chiều vừa qua, nhưng chưa dứt hẳn. Trời vẫn còn đầy những giọt nước bay nghiêng. Và lẫn trong những hàng nước ấy, những đám mây mỏng như khói, chợt bay ngang, chợt tan mất. Anh nói với tôi: “Những căn nhà dưới kia, trong thung lũng, xây bằng gạch và xi măng, vài năm nữa có còn không?”

Tôi nói:“Em không biết.”

Anh nói:” Nhưng những đám mây này thì còn”.

“Những đám mây mỏng mảnh này?”

“Ừ, những đám mây mỏng mảnh này.”

“Những đám mây khác chứ”

“Vẫn là những đám mây này.”

2

Nếu có hai nhà nhiếp ảnh nghệ thuật cùng chụp ảnh một căn phòng nào đó, trong cùng một giờ nào đó trong ngày, chúng ta sẽ có hai bức ảnh nói những điều khác nhau. Theo Susan Sontag thì một bức ảnh không cho ta thấy vật được chụp, cũng không phải người chụp thấy gì, mà cho ta thấy cách nhìn của người chụp ảnh. Nói cho cùng, dù đề tài đến bất chợt hay được sắp xếp, nhà nhiếp ảnh chỉ mượn hình ảnh bên ngoài để nói một điều gì đó từ bên trong họ.

Trong nghệ thuật, không có sự thật khách quan. Chỉ có sự thật của người chụp ảnh: hoặc sự thật ấy có đó, hoặc là không.

Nhiều người nói rằng viết văn là một công việc cô đơn. Cô đơn không phải vì người viết luôn luôn phải ngồi viết một mình. Mà cô đơn vì người viết trong những giây phút phải có chọn lựa quyết liệt nhất, họ không thể dựa vào người khác. Trong tác phẩm của họ, nếu sự thật của riêng họ không có đó, thì tác phẩm của họ không có sự thật. Chứ không có chuyện nó quàng lấy một sự thật khác, của một ai khác.

Người viết bắt đầu một cuốn sách với cốt truyện thường là ít chi tiết. Có lẽ người viết sẽ mượn từ thế giới một nơi chốn, một năm tháng nào đó, đặt vào đó các nhân vật, và cuộc hành trình bắt đầu. Trong chuyến đi, người ta mới nhận ra rằng tuy cốt truyện đã có sẵn như một thứ định mệnh của các nhân vật, mỗi ngày, ở mỗi khúc quanh, người viết đều có nhiều lựa chọn. Tuy có lựa chọn, người viết không thật sự có tự do đưa câu chuyện theo một hướng bất kỳ. Người viết chỉ có thể dựa trên bản chất của nhân vật mà biết trong tình cảnh như vậy, nhân vật của mình sẽ quyết định thế nào. Nói cho cùng, khi phác thảo nhân vật, dù chỉ là những nét chính, lồng họ vào một khung cảnh sống nào đó, người viết cũng đã quyết định định mệnh của họ, và qua đó đường đi của câu chuyện rồi. Tôi không muốn nói rằng con người bị nhốt trong bản năng, tâm lý và niềm tin của mình. Bản chất là một thứ gì to rộng hơn tổng số của ba thứ kia. Bản chất của con người bên cạnh những điều quen thuộc là những điều bí ẩn, nên hành động của con người vừa tất yếu, cũng lại vừa đầy những bất ngờ.

3

Năm xưa ông bà chúng ta nói “Đi cho biết đó biết đây.” Năm nay, ngồi duy nhất một nơi, mở ti vi, xem báo, mở internet, cả chiều rộng của thế giới, và chiều dài của lịch sử nữa, có thể thu về trên một cái màn hình.

Đôi khi có dịp đi đến một thành phố nào xa, một thành phố thật chứ không phải ảo, tôi lại có một chút thất vọng man mác không rõ nét. Buổi tối, những nơi còn mở cửa thường là những nơi dành cho khách du lịch. Khách đến thăm đã trở thành một loại người cần được tiếp một cách có tổ chức, công nghệ hóa. Những cánh cửa mở đón tiếp họ chỉ dành riêng cho việc đó. Cuộc đời thật của những con người thật nằm sau những cánh cửa đóng. Làm sao tôi biết được thế giới mình đến thăm, thật sự nó như thế nào?

Nếu mở được những cánh cửa ấy ra, có lẽ cuộc đời thật của họ cũng không khác của chúng ta ở quê nhà là mấy: Họ đang kinh nghiệm thế giới trước một cái màn hình nào đó.

Những gì chúng ta thu thập được từ bên ngoài, dù qua những chuyến đi hay qua đường truyền internet, chỉ mới là kiến thức và dữ kiện, chứ chưa phải là sự thật. Ngay cả những kinh nghiệm có được qua va chạm trong đời sống cũng vậy. Sự thật của riêng một người nào đó chỉ có được sau rung động và tư duy, nó là thứ còn lại đàng sau, nó là cái biết. Không phải ai cũng quyết định viết sự thật của mình lên giấy. Ngược lại, người có vốn sống không thôi cũng không đủ để viết văn. Vốn sống không có chiêm nghiệm, cũng trôi đi, mất đi những loại vốn liếng khác không có cách gìn giữ.

Những tình huống thật, của chính mình, bắt buộc chúng ta quyết định và nhận lấy những hệ quả của những quyết định ấy. Không phải lúc nào kinh nghiệm cũng đưa tới chiêm nghiệm, nhưng kinh nghiệm thật thường đưa tới chiêm nghiệm hơn là những kinh nghiệm vay mượn. Vì thế, có vốn sống chúng ta dễ đi đến gần sự thật của riêng mình hơn.

Nếu vốn sống cần thiết để viết văn như có gạo mới nấu thành cơm, ai quyết định sống thế nào thì thu thập được vốn sống và sống thế nào thì không? Tôi không nghĩ nhất thiết đi xa thì có vốn sống nhiều hơn là ở nhà, một cuộc sống an lành thì đem lại ít vốn sống hơn một đời sôi nổi.

Những khoảnh khắc của sự thật nằm ở sự chênh vênh nhiều hơn ở sự yên ổn. Một giọt nước giữa trời tự do hơn là một giọt nước dưới giếng. Giọt nước giữa trời có chọn lựa, nó có thể muốn thành khí và bay lên trời, hoặc muốn thành mưa rơi và xuống đất. Nhưng ai nói rằng nếu ngồi im ở quê nhà thì tôi không có khi là một giọt nước giữa trời?