Nước không chảy /  đêm không trôi
Gió không lay  /  mây không ngủ

Côn trùng ru thế kỷ thôi đừng buồn thêm nữa cỏ lau mờ xóa chân trời  

Nửa khuya,
có bao nhiêu sinh linh còn thức,
là bấy nhiêu vầng trăng lẻ

trời tha hương

ngàn dặm trăng treo còn đến bao giờ?

(từ một tứ thơ của đtn) 

Trong cuốn Waiting for the Barbarians, nhân vật tôi của J. M. Coetzee nhớ lại lúc ông còn làm magistrate trong một đồn biên phòng xa xôi, có một người đàn ông trẻ vì ăn cắp một con gà bị một magistrate khác phạt đi lính xa nhà ba năm, như lính trấn thủ lưu đồn ở nước ta ngày xưa. Được một tháng, anh lính trẻ nhớ mẹ, nhớ nhà, bỏ trốn. Người ta bắt được đem anh ta cho nhân vật tôi xử tội, anh lính đứng đó, hai tay bị trói phía sau, đôi mắt mờ đục.


“Anh cảm thấy như thế là không công bằng, tôi biết, rằng anh sẽ bị phạt vì anh mang trong người tình cảm của một đứa con trai yêu mẹ. Anh nghĩ anh biết thế nào là công bằng và thế nào là không. Tôi hiểu. Chúng ta ai cũng nghĩ là mình biết.” Tôi, chính tôi cũng không nghi ngờ gì rằng trong bất cứ khoảnh khắc nào bất cứ ai trong chúng ta, đàn ông, đàn bà, trẻ con, có lẽ ngay cả con ngựa đáng thương đang kéo cái cối xay kia, đều biết như thế nào là công bằng: tất cả sinh linh đều bước vào thế giới mang theo trong lòng ký ức về sự công bằng. “Nhưng chúng ta sống trong một thế giới của luật lệ,” tôi nói với người tù đáng thương của tôi, “một thế giới tốt đẹp hạng nhì. Chúng ta không làm gì được cả. Chúng ta là những sinh vật bị rơi. Tất cả những gì chúng ta có thể làm là giữ luật lệ, tất cả ai ai cũng thế, giữ luật lệ mà không để cho ký ức về sự công bằng của chúng ta phai đi.”

Và nhân vật tôi của J. M. Coetzee xử anh lính tội đào ngũ.

có mây qua

06.09.2011

Anh nhìn bằng mắt, nhưng đôi mắt không phải là cái nhìn. Anh nghĩ bằng lời, nhưng lời không phải là ý nghĩ.

Chánh niệm, cái chánh thứ bảy trong bát chánh đạo của Tất đạt đa, dạy chúng ta loại trừ ý nghĩ làm trung gian trong cảm thụ thế giới, ý nghĩ thường chất chứa đầy khôn ngoan, gạn lọc và định kiến.

Nếu bạn đồng nghĩa ý nghĩ và ngôn ngữ, thì chánh niệm đưa tới việc là cảm thụ thế giới chân thật thì không có lời. Không có lời, thì các nhà thơ đi chết hết hay sao?

Người Nhật, mặc dù rất giỏi nghề mài kiếm, quyết định là cứ để các nhà thơ sống. Và để không bị đem đi chém, các anh ấy làm những bài thơ như thế này:

thỉnh thoảng mây qua
để người ngắm trăng
nghỉ ngơi đôi mắt

(Basho)

Những bài hoặc đoạn thơ hay nhất, ở phương Đông và phương Tây, thường ở vùng biên giới nơi ý nghĩ bắt đầu hay không bắt đầu, chưa được sinh ra hay vừa mới chết đi. Tôi không phân biệt được đó là thơ, nhạc hay là họa.

Cửa vào

Dù em có là ai đi nữa: Buổi tối hãy bước ra
khỏi căn phòng của em, căn phòng trong đó em biết mọi thứ:
ở nơi chốn cuối cùng trước khi xa xăm bắt đầu, căn nhà em nằm đó:
Dù em có là ai đi nữa.
Với đôi mắt của em, mệt mỏi không còn sức để thoát
khỏi những ngưỡng cửa ưu phiền,
em nhấc thật chậm rãi một thân cây đen
và dựng nó lên trước bầu trời: gầy và lẻ loi.
Và em đã dựng lại thế giới. Và thế giới lớn
và như là một lời, một lời còn tự trưởng thành trong im lặng.
Và như ước nguyện của em tự hiểu ý nghĩa của nó,
đôi mắt em dịu dàng buông thả thế giới tan…

Rainer Maria Rilke

Đoạn dưới đây dịch từ bài của Ruth Franklin viết về Windfried Sebald. Lúc đọc tôi thấy hay nên giữ lại mà quên ghi là đọc ở đâu.

Nghệ thuật là kẻ gìn giữ ký ức, nhưng nó cũng là kẻ tàn phá ký ức.

Để tang sự mất mát của một ký ức anh không bao giờ có, Sebald quay sang Altdorfer để tìm thay thế. Khi ký ức thiếu vắng, nghệ thuật sẽ làm cho đủ; nhưng nghệ thuật là một thứ tốc ký, không phải là thứ lấp vào chỗ trống. Sebald mỹ hóa lịch sử, nhưng ông không bao giờ lầm lẫn lịch sử là nghệ thuật.

đi tầu ngang qua vùng đất như trên mặt trăng của thành phố ấy; dù tầu đầy, không có một người duy nhất nào nhìn ra ngoài cửa sổ. “Và bởi vì anh nhìn ra ngoài cửa sổ”, Sebald viết, “người ta nhận ra anh là một kẻ lạ.” Nossack kể lại anh đã thấy một người đàn bà đang lau các cửa kính của một ngôi nhà “đứng một mình, không bị hư hại, giữa một vùng hoang tàn đổ nát.”

trách nhiệm của người công dân trung bình phải mở mắt khi phải đối diện với sự xấu xí của nhân tính

Các tác phẩm của Sebald đã luôn trình bày sự chịu đựng không có nguyên cớ, chỉ như một phần trong họa tiết lớn của sự đau khổ đã định nghĩa tình huống làm người. Chúng ta thấy điều này trong nỗi buồn đặc thù đã nhiễm vào các nhân vật, thứ nỗi buồn có vẻ như hiện hữu bên ngoài sự hiểu biết của chính họ.