Cái nhìn

21.03.2012

Ở gương mặt, người ta nhận ra nhau đầu tiên, rồi đánh giá, rồi yêu ghét, rồi ghi nhớ. Vì thế, gương mặt của chúng ta luôn luôn tìm cách – học cách, tạo ấn tượng thuận lợi nhất cho mình trong mắt người khác. Qua bao nhiêu ngày, cái thứ nói về mình nhiều nhất lại là thứ xa lạ với mình nhất, vì nó thuộc về người khác. Không mấy ai tự biết mình đẹp hay xấu, mà chỉ nghe người khác, tin người khác hơn chính mình về chuyện này. Rồi để cái nhìn của họ điều khiển mình, tự tương thích gương mặt theo ý thích, theo gương mẫu của cái nhìn, sao cho nó yêu mình càng nhiều càng tốt.

Mà cái nhìn của người khác, nó như thế nào? Từ lúc đồng tử của họ nhận lấy sóng hình ảnh từ một gương mặt người cho đến khi người ta đánh giá mức độ đẹp xấu hay dở của người ấy, thì hệ thống truyền tải thông tin trong mấy giây đó đã đi qua bao nhiêu lần rập khuôn, so sánh thông tin nhận được, với thông tin đã lưu trữ, nó gần với khuôn mẫu nào nhất thì tag nó với tag đó, rồi dùng tag đó mô tả gương mặt, mà những tag/tính từ đó không thể không là một phần của một bảng đánh giá.

Sự đánh giá theo khuôn có sẵn này giải thích tại sao phụ nữ được nhìn nhận là đẹp giống nhau đến như thế (phụ nữ lệ thuộc vào cái nhìn nhiều hơn đàn ông). Xã hội không những cho phép, mà còn gần như bắt buộc phụ nữ thích ứng, thay đổi, cải tạo để được yêu thích hơn, bằng cử chỉ, bằng trang điểm, ngay cả bằng phẩu thuật, cho giống với một hình ảnh lý tưởng, mà con số hình ảnh lý tưởng, thì rất hạn hẹp. Người ta quan sát thấy rằng phụ nữ càng chăm chú vào việc thích ứng gương mặt mình với một khuôn mẫu lý tưởng của số đông, thì chúng ta càng khó phân biệt giữa họ với nhau hơn. Tôi cho là nghề giám khảo thi hoa hậu Việt Nam là nghề khó nhất trên toàn cầu. Bạn ngồi đó, khoảng hai mươi cô gái đi qua trước mặt bạn, và bạn không thể phân biệt cô nào với cô nào, thì làm sao chấm điểm? Stress nghề nghiệp, biết sao.

 

Tôi không có gì chống lại một gương mặt đẹp. Nhưng nếu thế giới một ngày nào đó chỉ còn lại một đến năm gương mặt đẹp, thì làm sao?

Nếu có chánh niệm, người ta thấy một gương mặt, hay bất cứ thứ gì, như nó là chứ không phải như cái khuôn mẫu gần nhất có sẵn trong bộ nhớ của chúng ta về nó. Nhưng con người có quá ít thời gian cho quá nhiều thông tin phải xử lý, phán đoán hàng ngày, nên phải sử dụng, một cách tự động, hệ thống khuôn mẫu này. Lâu ngày, cùng với sự đồng tình của xã hội, cái nhìn, là một ngôn ngữ trực tiếp, đã trở thành một ngôn ngữ cũng gián tiếp như chữ nghĩa, là thứ cần đến một hệ thống ý nghĩa (và giá trị) được thỏa thuận trước với nhau bởi những người sử dụng. Điểm khác nhau là những thỏa thuận này, đối với chữ nghĩa, nằm trong ý thức trong khi đối với hình ảnh, nó nằm phần lớn trong vô thức. Vô thức là nơi chúng ta khó access vào database để thay đổi cập nhật được. Và vì vậy, cái nhìn thường mang nặng định kiến. Định kiến trong vô thức là thứ điều khiển chúng ta, chứ không phải ngược lại. Giới quảng cáo rất biến điều này, và họ đánh thẳng vào vô thức, để bán được hàng.

 

Một ngày, tôi thức dậy, và nhận thấy rằng hầu hết bạn bè người quen đều đã đi làm trong thế giới mà image là chính nếu không là tất cả. Phim, báo ảnh, thời trang, quảng cáo, thiết kế, kiến trúc, nhiếp ảnh, và dĩ nhiên, hội họa. Có lẽ vì không có gì tạo ảnh hưởng nhanh bằng hình ảnh nên ngành này cuốn hút nhiều người. Nói thật thì tôi mong chờ ở nhiếp ảnh và hội họa nhiều hơn, vì hai ngành này, nếu đúng, ít lệ thuộc vào cái nhìn của người khác nhất. Ít lệ thuộc vào cái nhìn, để mà phục vụ nó một cách bình đẳng chứ không ở vị trí nô lệ. Đó là điều kiện đầu tiên và thiết yếu của nghệ thuật.

Mà hình như nghệ thuật là thứ lạc lõng nhất trong thời này thì phải.

Thế giới có gần 7 ngàn triệu người đang sống, cộng với vô số lần hơn như vậy số người đã sống và đã chết. Là một hạt bụi trong lịch sử rộng và dài này, làm sao chúng ta có thể nói được một câu nào chưa có người từng đã nói?

Làm sao để sáng tạo?

Chúng ta viết một câu, ví dụ như: “Cái đẹp có thể thay đổi thế giới”; ví dụ như: “All you need is love.” Một câu lớn lao mà chúng ta nghĩ ra chứ không phải đọc được, nghĩ ra giữa cơn bất tỉnh trong sự nhỏ nhoi tuyệt đối chứ không phải trong niềm hưng phấn về một tài năng hay tầm vóc nào của mình. Câu ấy đúng. Câu ấy thật. Câu ấy đến từ sự chiêm nghiệm trên da thịt thật chúng ta đã trải qua. Chúng ta viết câu ấy ra.

Không ai buồn đọc cả. Vì sao?

Vì người ta đã nghe ai khác nói câu đó một ngàn lần rồi.
Vì một câu kết luận không phải là một bắt đầu, không gợi lên nên cũng không để lại thứ gì cả.

Chúng ta làm gì với câu đó bây giờ?

Sinh ra sau và giữa bao nhiêu là người, chúng ta còn có thể nói gì mà nó không phải là một sự lặp lại. Không muốn lặp lại, không lẽ số phận của chúng ta là chết đi trong im lìm?

Chúng ta vẫn có thể nói câu ấy, đúng từng chữ một, nói và lặp lại hai hoặc hai trăm hai mươi hai lần, mà vẫn có người nghe, nếu chúng ta nói bằng một cái tượng, một bức tranh, một bản nhạc hay một câu chuyện được kể bằng phim hay bằng chữ. Hoặc bằng cách mình sống. Và kể lại một nghìn lần vẫn không lặp lại. Chúng ta muốn nói về sự thật, nhưng sự thật không tên, không dáng và không màu, nên không tả được. Muốn người xem tranh nhìn thấy ánh sáng, chúng ta đặt một thứ gì đó trên đường đi của ánh sáng: mắt người chỉ nhìn thấy đồ vật được rọi sáng, chứ không thấy ánh sáng. Để nói về sự thật, chúng ta dựng nên không gian và thời gian, những con người, những tình huống được sự thật đó soi sáng, chứ không thể mô tả sự thật.

Chúng ta vẽ một bức tranh lớn bằng cả một bức tường, hoặc viết một cuốn tiều thuyết năm trăm trang, chỉ để viết một câu duy nhất chúng ta cần viết. Nhưng ở cuối chuyện, sau bao nhiêu ngày và đêm vô tận và vất vả, khi thời khắc đã đến để chúng ta có thể viết được câu kết luận, thì chúng ta lại thôi không viết. Tự do cuối cùng của người đọc, không lẽ chúng ta lại cướp đi hay sao?

Sự thật chỉ có một, nhưng những câu chuyện làm cho chúng ta cảm nhận – dù nắm lấy được trong tay hay chỉ nghe thoảng một mùi hương về sự thật – thì vô tận. Tất cả các câu chuyện chỉ kể một câu chuyện. Vì thế cho nên có nghệ thuật.

Khi nhìn thấy một con thuyền và nghĩ là nó đẹp, bạn không hề nghĩ đến mảnh nào trong một trăm ngàn mảnh đã được ghép lại để làm nên con thuyền ấy. Một con thuyền đẹp là nhờ cái trật tự theo đó những mảnh nhỏ đã được ghép lại. Cuối cùng, con thuyền cũng không đẹp vì cái trật tự ấy, mà vì những lời hẹn của nó. Lời hẹn của con thuyền là những chuyến đi xa. Nếu đó là một con thuyền cũ, nó cũng đẹp vì những con đường nó đã băng qua đại đương; vì những bờ biển nó đã đến và rời đi, và bây giờ sóng vỗ ở bên trong ký ức của con thuyền, dù bạn không nhìn thấy. Ký ức cũng giống như một lời hẹn.

Cái đẹp luôn luôn dẫn đến những thứ rộng lớn hơn chính nó. Giống như một bài thơ hay thì lớn hơn tổng số các từ được viết xuống giấy. Cái đẹp bắt đầu từ một thứ có hình tướng, nhưng nó không chấm dứt ở đó.

Hãy nghĩ đến khoảng không bạn chừa lại, nó như thế nào. Điều này áp dụng cho việc viết tiểu thuyết, cũng như cho kiến trúc. Cho tất cả mọi ngành design.

Cái đẹp của một con thuyền nằm ở lời hẹn. Một con thuyền còn như thế, huống chi một con người.

thấp thoáng

30.08.2009

Có lúc tôi từng sợ mình sống đến hết đời chưa làm được cái gì đẹp. Tôi cũng thường nghĩ cái đẹp hoàn hảo đã làm xong rồi (ví dụ như bài piano concerto số 1 của Brahms), thời chúng ta còn bao giờ có ai có thể làm ra được thứ gì đẹp hơn mà hoài công.

Bây giờ tôi bắt đầu hiểu rằng Brahms viết nhạc không tạo ra cái đẹp (to create beauty) mà để hé lộ nó ra (to unveil beauty). Cái đẹp tràn lan và toàn vẹn, và giống như sự thật, nó chỉ có một. Những người nghệ sĩ chỉ mở những cánh cửa khác nhau, từ chỗ họ ngồi và góc họ nhìn, để chúng ta trong khoảnh khắc nương nhờ đôi mắt và trái tim của họ mà nhìn thấy, chạm vào, thường chỉ trong một thoáng, một thiên đường duy nhất đã luôn ở đó tự nghìn xưa. Chưa có một giây nào thiên đường đó đã từng không tồn tại.