cánh bướm

24.03.2012

Khi ai đó nhắc tới cánh bướm trong truyện của họ, bạn nghĩ tới gì?

Trong cuốn The Master of Petersburg có một đoạn Coetzee kể lại lúc Dostoevsky đến chỗ nhà trọ con trai (riêng của vợ ông) ở cuối cùng trước khi chết. Bà chủ nhà trọ mời ông ở ại ăn tối với bà và con gái. Ông hỏi bà về Pavel, người con trai mới mất. Anh ấy làm sao biết nơi này mà đến thuê phòng.

Bà chủ nhà trọ ngập ngừng, bà định nói là anh ấy đáng mến, nhưng bà không thể nói điều đó mà không đặt nó sau một động từ ở thì quá khứ, như vậy thì sự mất mát quá rõ nét. Ông hiểu như vậy. Cuối cùng bà chỉ nói là một người thuê phòng khác giới thiệu anh ấy đến đây.

“Ông bỗng thấy bà thật khô khan, khô như chiếc cánh của một con bướm. Như thể giữa làn da và chiếc váy lót, giữa làn da và đôi tất đen sát người mà chắc chắn bà đang mặc, có một lớp phấn tro trắng mịn, cho nên, nếu để buông lơi từ vai, chiếc áo bà mặc sẽ chuồi xuống đất không cần ai nắm kéo.

Ông ước được nhìn thấy bà trần trụi, người đàn bà trong lần bừng nở cuối cùng này của tuổi xuân.”

Cánh bướm là một hình ảnh sáo mòn trong văn và thơ. Nhưng, với một chút chánh niệm, bạn vẫn có thể rủ bỏ mọi liên tưởng quen thuộc và dùng nó trong một ý nghĩa khác.

blue nothingness

20.06.2011

Photobucket

xác thịt

26.05.2011

nghe nhạc phải nghe bằng mỗi cm2 diện tích trên da thịt, và trên đầu mỗi sợi lông cọng tóc. Tình yêu âm nhạc là tình yêu xác thịt. Mà làm khỉ gì có tình yêu gì không phải là tình yêu xác thịt nhỉ? Nói tôi nghe đi, nói đi nói đi. Ngay cả khi em là gió, không có xác thịt đố tôi nghe được tiếng gió và ngửi được mùi thơm của gió.

niết bàn

26.05.2011

tự do hả? chị trong nghệ thuật mới có tự do thôi, còn thì là chăm ngoan học các qui luật của cuộc sống để càng thích ứng, khôn và khéo, thì càng thành công và dễ sống.

diệu đế

26.05.2011

nỗi khổ lớn nhất của tình yêu là nó không được chết

 

câu này của V tôi chỉ đặt tựa

 

Thế giới có gần 7 ngàn triệu người đang sống, cộng với vô số lần hơn như vậy số người đã sống và đã chết. Là một hạt bụi trong lịch sử rộng và dài này, làm sao chúng ta có thể nói được một câu nào chưa có người từng đã nói?

Làm sao để sáng tạo?

Chúng ta viết một câu, ví dụ như: “Cái đẹp có thể thay đổi thế giới”; ví dụ như: “All you need is love.” Một câu lớn lao mà chúng ta nghĩ ra chứ không phải đọc được, nghĩ ra giữa cơn bất tỉnh trong sự nhỏ nhoi tuyệt đối chứ không phải trong niềm hưng phấn về một tài năng hay tầm vóc nào của mình. Câu ấy đúng. Câu ấy thật. Câu ấy đến từ sự chiêm nghiệm trên da thịt thật chúng ta đã trải qua. Chúng ta viết câu ấy ra.

Không ai buồn đọc cả. Vì sao?

Vì người ta đã nghe ai khác nói câu đó một ngàn lần rồi.
Vì một câu kết luận không phải là một bắt đầu, không gợi lên nên cũng không để lại thứ gì cả.

Chúng ta làm gì với câu đó bây giờ?

Sinh ra sau và giữa bao nhiêu là người, chúng ta còn có thể nói gì mà nó không phải là một sự lặp lại. Không muốn lặp lại, không lẽ số phận của chúng ta là chết đi trong im lìm?

Chúng ta vẫn có thể nói câu ấy, đúng từng chữ một, nói và lặp lại hai hoặc hai trăm hai mươi hai lần, mà vẫn có người nghe, nếu chúng ta nói bằng một cái tượng, một bức tranh, một bản nhạc hay một câu chuyện được kể bằng phim hay bằng chữ. Hoặc bằng cách mình sống. Và kể lại một nghìn lần vẫn không lặp lại. Chúng ta muốn nói về sự thật, nhưng sự thật không tên, không dáng và không màu, nên không tả được. Muốn người xem tranh nhìn thấy ánh sáng, chúng ta đặt một thứ gì đó trên đường đi của ánh sáng: mắt người chỉ nhìn thấy đồ vật được rọi sáng, chứ không thấy ánh sáng. Để nói về sự thật, chúng ta dựng nên không gian và thời gian, những con người, những tình huống được sự thật đó soi sáng, chứ không thể mô tả sự thật.

Chúng ta vẽ một bức tranh lớn bằng cả một bức tường, hoặc viết một cuốn tiều thuyết năm trăm trang, chỉ để viết một câu duy nhất chúng ta cần viết. Nhưng ở cuối chuyện, sau bao nhiêu ngày và đêm vô tận và vất vả, khi thời khắc đã đến để chúng ta có thể viết được câu kết luận, thì chúng ta lại thôi không viết. Tự do cuối cùng của người đọc, không lẽ chúng ta lại cướp đi hay sao?

Sự thật chỉ có một, nhưng những câu chuyện làm cho chúng ta cảm nhận – dù nắm lấy được trong tay hay chỉ nghe thoảng một mùi hương về sự thật – thì vô tận. Tất cả các câu chuyện chỉ kể một câu chuyện. Vì thế cho nên có nghệ thuật.

racing in the fog

24.04.2011

Tôi đang ở trên một con thuyền buồm nhỏ, một mình. Gió lên, và lạ thay, dù có gió, sương vẫn không tan. Gió thổi từng đợt sương bay, tiếp nối nhau, sương dầy đến nổi dù trời sáng, tôi không biết mặt trời ở phương nào. Buồm bắt gió trôi đi phăng phăng trên mặt biển – không còn chân trời, không còn thời khắc. Tôi nhắm mắt lại. Nhanh lên nữa, nhanh lên nữa. Tôi mở mắt ra: chỉ có từng làn sương trắng vút qua, vút qua mãi. Sương trắng đã kéo không gian vào vô tận. Khởi điểm và mức đến đều tan biến mất rồi. Chỉ còn lại cuộc đua duy nhất không phương hướng của một con thuyền với chính nó mà thôi.

Văn xuôi có thể là nghệ thuật hay không?

Cho tôi nói trước rằng tạo ra một tác phẩm nghệ thuật chỉ là một chọn lựa, không phải là mục đích của tất cả những người viết văn. Người ta vẫn đặt văn học bên cạnh nghệ thuật, bên cạnh chứ không phải bên trong. Một tác phẩm văn học hoàn toàn có đủ lý do để tồn tại ngay cả khi tác giả của nó không xem nghệ thuật là mục đích.

Ngôn ngữ là một qui ước, là phương tiện trao đổi thông dụng và trực tiếp nhất giữa con người. Khi người viết chọn một ngôn ngữ minh bạch để đạt đến mục đích là được hiểu bằng con đường ngắn nhất, chúng ta khó nhận ra nghệ thuật vì lúc đó ngôn ngữ chỉ là một qui ước được lặp lại. Ngay cả khi tác phẩm có giá trị triết học, cũng chưa phải đương nhiên đó là một tác phẩm nghệ thuật.

Văn xuôi trở thành nghệ thuật a) Khi ngôn ngữ được đẩy đến những biên giới mới, nới rộng các qui ước. b) Khi một câu văn có thể được hiểu với nhiều tầng lớp ý nghĩa đồng lúc. c) Khi ngôn ngữ làm rung động mọi cảm xúc chứ không chỉ qua con đường lý trí.

Cho tôi hỏi lại về điểm b) Khi một câu văn có thể được hiểu với nhiều tầng lớp ý nghĩa đồng lúc.

Không phải nhiều tầng lớp ý nghĩa làm cho câu văn tối nghĩa đi, có thể bị hiểu sai, và như thế là vi phạm tội lỗi đáng chết của một người viết?

Các đề tài của triết học thường khó hiểu và công việc của người viết sách triết là làm sao cho câu văn càng minh bạch càng tốt, ý nghĩa cần nhất quán không thể bị hiểu lầm. Ngôn ngữ của triết học cần giống ngôn ngữ toán học, ví dụ như tổng số là kết quả của phép toán cộng còn sai số là kết quả của phép toán trừ. Định nghĩa không được di dịch.

Nghệ thuật, ngược lại, có thể lấy một đề tài giản dị và diễn đạt nó với nhiều tầng lớp phức tạp. Vâng, tôi đồng ý là có nhiều tầng lớp thì có thể tối nghĩa và có thể bị hiểu sai. Thay vì viết ra tất cả, câu này sau câu kia, người viết đặt các tầng lớp đồng lúc trong cùng một câu văn (như counterpoint trong nhạc) cũng có nghĩa là ông ta đặt vào tay người đọc tự do hiểu và cảm nhận. Tự do nào cũng đi kèm với ít hoặc nhiều liều lĩnh. Bị hiểu sai. Hoặc không được hiểu. Thì sao? Nghệ thuật luôn luôn phải sống với số phận đó. Điều làm nên nghệ thuật gồm hai phần. Phần bên nay là sự diễn đạt của người nghệ sĩ; phần kia là cảm nhận chủ quan của người ngắm nhìn.

Một tác phẩm nghệ thuật khi đã làm xong nhưng chưa được nhìn ngắm thì nó vẫn chưa xong.

Cái gì làm nên các tầng lớp ý nghĩa trong một câu văn?

Tôi xin mượn hình ảnh của một nhà thơ: con chim đen. Bạn biết rằng khi con chim đen bay ngang qua bầu trời, có bao nhiêu người nhìn nó thì có bấy nhiêu cách nhìn. Và nhiều hơn như vậy nữa. Người viết chỉ nhắc đến con chim đen bay ngang một lần mà thôi, trong một lần đó, có bao nhiêu cách nhìn nó dù chỉ trên nền một bầu trời duy nhất.

Tôi tưởng tượng trong tryện có một nhân vật nói về con chim đen, và điều người ấy nói có thể vừa cho bạn biết về con chim đen, vừa cho bạn biết về một bí mật của người nói. Đó là hai tầng ý nghĩa khác nhau. Người trong truyện có một ước vọng không còn làm được trong kiếp này, và trong một khoảnh khắc lạ lùng người ấy thấy con chim đen đang sống giấc mơ của mình, và người ấy tả cho bạn con chim đen trong thứ ánh sáng bất chợt đó.

Rồi lại có những tầng khác. Không phải bạn chỉ có con chim đen và người tả nó, mà còn người viết, kẻ đã tạo ra cả hai. Ở lại lâu hơn một chút, biết đâu người đọc lại thấy bí mật mình khám phá ra hoặc tìm lại được chính là của mình. Các tầng lớp trong một đoạn văn giống như mây, bạn thấy nhiều hay ít, là do mặt trời cho bạn bao nhiêu ánh sáng – và bóng tối – rọi xuyên qua đám mây đó.

Tôi còn nhiều câu hỏi, nhưng còn cần có thì giờ sắp xếp chúng lại một chút.

Ừ, để hôm khác. Bây giờ đi ngủ thôi.

Khi nhìn thấy một con thuyền và nghĩ là nó đẹp, bạn không hề nghĩ đến mảnh nào trong một trăm ngàn mảnh đã được ghép lại để làm nên con thuyền ấy. Một con thuyền đẹp là nhờ cái trật tự theo đó những mảnh nhỏ đã được ghép lại. Cuối cùng, con thuyền cũng không đẹp vì cái trật tự ấy, mà vì những lời hẹn của nó. Lời hẹn của con thuyền là những chuyến đi xa. Nếu đó là một con thuyền cũ, nó cũng đẹp vì những con đường nó đã băng qua đại đương; vì những bờ biển nó đã đến và rời đi, và bây giờ sóng vỗ ở bên trong ký ức của con thuyền, dù bạn không nhìn thấy. Ký ức cũng giống như một lời hẹn.

Cái đẹp luôn luôn dẫn đến những thứ rộng lớn hơn chính nó. Giống như một bài thơ hay thì lớn hơn tổng số các từ được viết xuống giấy. Cái đẹp bắt đầu từ một thứ có hình tướng, nhưng nó không chấm dứt ở đó.

Hãy nghĩ đến khoảng không bạn chừa lại, nó như thế nào. Điều này áp dụng cho việc viết tiểu thuyết, cũng như cho kiến trúc. Cho tất cả mọi ngành design.

Cái đẹp của một con thuyền nằm ở lời hẹn. Một con thuyền còn như thế, huống chi một con người.

1

Tôi đã sống ở nhiều nơi trên thế giới. Và trở về nhà. Và lại đi. Một người bạn nói với tôi rằng người viết cần đi nhiều, sống nhiều, để có nhiều vốn sống. Nhưng thế nào là sống nhiều?

Người ta vừa sợ đời mình nhiều biến cố, vừa sợ cuộc đời xảy ra ở một nơi nào khác và mình không có mặt ở đó.

Như nhiều người khác, trong tôi luôn luôn có một ước vọng về một cuộc đời sôi nổi, và một ước vọng cho một cuộc đời an lành. Chúng ta luôn luôn mang trong người cùng lúc nỗi nhớ những chuyến đi xa và niềm mong mỏi ngày trở về.

Ngày đó, tôi tin rằng cuộc đời ở ngoài kia. Trong thế giới bên ngoài, ở những nơi khác nhau, người ta đã gầy dựng nên, làm ra cuộc đời. Tôi sẽ đến và dự phần vào đó, để rồi một ngày nào đó tôi có thể nói tôi đã đến sống ở Mỹ, ở Pháp, ở Ấn Độ, và tôi biết cuộc đời ở những nơi đó như thế nào. Nếu tôi biết nhiều cuộc đời ở nhiều nơi, có nghĩa là tôi có nhiều vốn sống. Tôi sẽ có nhiều câu chuyện. Thật ra không phải vậy. Chúng ta chỉ có một cuộc đời, cuộc đời của mình. Những chuyến đi, những khung cảnh sống khác lạ, chỉ cung cấp những cái khung khác nhau cho câu chuyện duy nhất của cuộc đời duy nhất của mỗi người. Thế giới xa vắng cũng ở trong lòng và quê hương thân thuộc cũng ở trong lòng.

Ở thế hệ của chúng tôi, chọn cuộc sống thị thành, có lẽ người ta còn phải biết giữ cả hai – đường đi và lối về – trong cùng một ngăn tim. Những thành phố lớn càng ngày càng giống nhau. Những con đường nhỏ, những mái nhà quen và người quen càng ngày càng thay đổi và nhanh chóng trở nên lạ lùng. Nếu cần một quê hương, một nơi chốn yên lành và bền vững, chúng tôi phải tựa vào những thứ không do con người làm ra và không thể mất đi: những cơn mưa, những ngày bão, những đêm không gió.

Buổi chiều chúng tôi đứng ở lan can tầng trên một căn nhà trên sườn đồi, nhìn xuống thành phố. Bầu trời rất rộng ở chung quanh. Cơn mưa chiều vừa qua, nhưng chưa dứt hẳn. Trời vẫn còn đầy những giọt nước bay nghiêng. Và lẫn trong những hàng nước ấy, những đám mây mỏng như khói, chợt bay ngang, chợt tan mất. Anh nói với tôi: “Những căn nhà dưới kia, trong thung lũng, xây bằng gạch và xi măng, vài năm nữa có còn không?”

Tôi nói:“Em không biết.”

Anh nói:” Nhưng những đám mây này thì còn”.

“Những đám mây mỏng mảnh này?”

“Ừ, những đám mây mỏng mảnh này.”

“Những đám mây khác chứ”

“Vẫn là những đám mây này.”

2

Nếu có hai nhà nhiếp ảnh nghệ thuật cùng chụp ảnh một căn phòng nào đó, trong cùng một giờ nào đó trong ngày, chúng ta sẽ có hai bức ảnh nói những điều khác nhau. Theo Susan Sontag thì một bức ảnh không cho ta thấy vật được chụp, cũng không phải người chụp thấy gì, mà cho ta thấy cách nhìn của người chụp ảnh. Nói cho cùng, dù đề tài đến bất chợt hay được sắp xếp, nhà nhiếp ảnh chỉ mượn hình ảnh bên ngoài để nói một điều gì đó từ bên trong họ.

Trong nghệ thuật, không có sự thật khách quan. Chỉ có sự thật của người chụp ảnh: hoặc sự thật ấy có đó, hoặc là không.

Nhiều người nói rằng viết văn là một công việc cô đơn. Cô đơn không phải vì người viết luôn luôn phải ngồi viết một mình. Mà cô đơn vì người viết trong những giây phút phải có chọn lựa quyết liệt nhất, họ không thể dựa vào người khác. Trong tác phẩm của họ, nếu sự thật của riêng họ không có đó, thì tác phẩm của họ không có sự thật. Chứ không có chuyện nó quàng lấy một sự thật khác, của một ai khác.

Người viết bắt đầu một cuốn sách với cốt truyện thường là ít chi tiết. Có lẽ người viết sẽ mượn từ thế giới một nơi chốn, một năm tháng nào đó, đặt vào đó các nhân vật, và cuộc hành trình bắt đầu. Trong chuyến đi, người ta mới nhận ra rằng tuy cốt truyện đã có sẵn như một thứ định mệnh của các nhân vật, mỗi ngày, ở mỗi khúc quanh, người viết đều có nhiều lựa chọn. Tuy có lựa chọn, người viết không thật sự có tự do đưa câu chuyện theo một hướng bất kỳ. Người viết chỉ có thể dựa trên bản chất của nhân vật mà biết trong tình cảnh như vậy, nhân vật của mình sẽ quyết định thế nào. Nói cho cùng, khi phác thảo nhân vật, dù chỉ là những nét chính, lồng họ vào một khung cảnh sống nào đó, người viết cũng đã quyết định định mệnh của họ, và qua đó đường đi của câu chuyện rồi. Tôi không muốn nói rằng con người bị nhốt trong bản năng, tâm lý và niềm tin của mình. Bản chất là một thứ gì to rộng hơn tổng số của ba thứ kia. Bản chất của con người bên cạnh những điều quen thuộc là những điều bí ẩn, nên hành động của con người vừa tất yếu, cũng lại vừa đầy những bất ngờ.

3

Năm xưa ông bà chúng ta nói “Đi cho biết đó biết đây.” Năm nay, ngồi duy nhất một nơi, mở ti vi, xem báo, mở internet, cả chiều rộng của thế giới, và chiều dài của lịch sử nữa, có thể thu về trên một cái màn hình.

Đôi khi có dịp đi đến một thành phố nào xa, một thành phố thật chứ không phải ảo, tôi lại có một chút thất vọng man mác không rõ nét. Buổi tối, những nơi còn mở cửa thường là những nơi dành cho khách du lịch. Khách đến thăm đã trở thành một loại người cần được tiếp một cách có tổ chức, công nghệ hóa. Những cánh cửa mở đón tiếp họ chỉ dành riêng cho việc đó. Cuộc đời thật của những con người thật nằm sau những cánh cửa đóng. Làm sao tôi biết được thế giới mình đến thăm, thật sự nó như thế nào?

Nếu mở được những cánh cửa ấy ra, có lẽ cuộc đời thật của họ cũng không khác của chúng ta ở quê nhà là mấy: Họ đang kinh nghiệm thế giới trước một cái màn hình nào đó.

Những gì chúng ta thu thập được từ bên ngoài, dù qua những chuyến đi hay qua đường truyền internet, chỉ mới là kiến thức và dữ kiện, chứ chưa phải là sự thật. Ngay cả những kinh nghiệm có được qua va chạm trong đời sống cũng vậy. Sự thật của riêng một người nào đó chỉ có được sau rung động và tư duy, nó là thứ còn lại đàng sau, nó là cái biết. Không phải ai cũng quyết định viết sự thật của mình lên giấy. Ngược lại, người có vốn sống không thôi cũng không đủ để viết văn. Vốn sống không có chiêm nghiệm, cũng trôi đi, mất đi những loại vốn liếng khác không có cách gìn giữ.

Những tình huống thật, của chính mình, bắt buộc chúng ta quyết định và nhận lấy những hệ quả của những quyết định ấy. Không phải lúc nào kinh nghiệm cũng đưa tới chiêm nghiệm, nhưng kinh nghiệm thật thường đưa tới chiêm nghiệm hơn là những kinh nghiệm vay mượn. Vì thế, có vốn sống chúng ta dễ đi đến gần sự thật của riêng mình hơn.

Nếu vốn sống cần thiết để viết văn như có gạo mới nấu thành cơm, ai quyết định sống thế nào thì thu thập được vốn sống và sống thế nào thì không? Tôi không nghĩ nhất thiết đi xa thì có vốn sống nhiều hơn là ở nhà, một cuộc sống an lành thì đem lại ít vốn sống hơn một đời sôi nổi.

Những khoảnh khắc của sự thật nằm ở sự chênh vênh nhiều hơn ở sự yên ổn. Một giọt nước giữa trời tự do hơn là một giọt nước dưới giếng. Giọt nước giữa trời có chọn lựa, nó có thể muốn thành khí và bay lên trời, hoặc muốn thành mưa rơi và xuống đất. Nhưng ai nói rằng nếu ngồi im ở quê nhà thì tôi không có khi là một giọt nước giữa trời?